Mẹ chồng chia đất cho cả ba con, nhưng không có phần tôi. Tôi không khóc, không cãi. Đến ngày bà nhập viện, cả nhà gọi tôi hơn 80 cuộc… và đây là câu trả lời khiến họ ch;ết lặng.
Tôi về làm dâu nhà chồng đã mười năm. Mười năm ấy, tôi không nhớ mình đã cười vui được bao nhiêu lần. Nhà chồng có ba anh em, chồng tôi là con giữa. Mẹ chồng vốn thương con út nhất, còn con cả đã lập nghiệp xa, mỗi năm chỉ về vài ba lần. Tôi – một đứa con dâu tỉ;nh lẻ, lấy chồng xong thì dọn về sống chung với mẹ chồng trong căn nhà ngói cũ, hai mái xệ xuống vì mưa gió.
Làm dâu, tôi quen việc dậy từ năm giờ sáng, rửa chén, nấu cơm, lau nhà, rồi mới đi làm. Mẹ chồng tôi ít khi khen ai câu nào. Có lần, tôi nấu bữa cơm tươm tất, bà chỉ nói: “Rau luộc nhạt quá.”
Tôi im lặng quen rồi. Mẹ chồng không thích phụ nữ cãi lại. Chồng tôi cũng không bênh, chỉ bảo: “Thôi, tính mẹ vậy mà.”
Những lúc bà mệt, tôi tự tay sắc thuốc, đấm bóp, bưng cháo. Không ai bảo, nhưng tôi nghĩ: Mình là dâu, phải thương mẹ chồng như mẹ ruột.
Nhưng không, tình cảm không thể đi một chiều mãi.
Năm thứ sáu làm dâu, tôi sả//y th//ai. Mẹ chồng nói trước mặt khách:
“Khéo kéo gì, để con cháu nhà này thất lạc.”
Tôi đứng ch//ết lặng, tay ôm bụng, lòng rỗng như bị kho//ét.
Chồng nghe mà chỉ mím môi, không nói đỡ một câu.
Hôm ấy, tôi hiểu một điều: tôi chỉ là người ngoài. Dẫu có cố đến đâu, vị trí của tôi vẫn không bao giờ thuộc về gia đình này.
Một chiều tháng Hai, tôi đang phơi quần áo thì thấy ba anh em nhà chồng tụ tập trong phòng khách. Mẹ chồng đặt trước mặt mỗi người một xấp giấy đỏ. Tôi đoán ngay: sổ đỏ. Những mảnh đất bà tích góp cả đời.
Anh cả được miếng đất mặt đường, vợ chồng út được miếng đất gần chợ.
Chồng tôi… cũng được một miếng – đất ruộng sâu, tách ra từ phần còn lại.
Họ nói chuyện rôm rả, còn tôi đứng ngoài hiên, tay vẫn cầm cái áo ướt.
Không ai gọi tôi vào. Không ai nhắc đến tôi. Không ai nói một câu xã giao.
Đến khi họ bàn bạc xong, chồng mới lúng túng nhìn tôi:
“Mẹ chia đất cho anh em. Em… đừng để bụng.”
Tôi chỉ cười nhẹ:
“Có gì đâu để bụng.”
Nhưng tối đó, tôi ngồi trước hiên nhà rất lâu. Những ánh đèn đường vàng võ rọi xuống ngực tôi, thấy nhói nhói… ![]()
…như có ai vừa đặt một cục đá lạnh lên tim.
Tôi ngồi đó, nghĩ về mười năm làm dâu của mình. Nghĩ về những bữa cơm nguội, những lần nuốt nước mắt vào trong, những đêm sốt cao vẫn lặng lẽ dậy nấu cháo cho mẹ chồng. Cuối cùng, tôi hiểu: người ta không quên công tôi, họ chỉ chưa từng coi tôi là người nhà.
Từ hôm đó, tôi thay đổi.
Không ồn ào. Không trách móc.
Tôi vẫn dậy sớm, vẫn làm việc nhà, nhưng không còn tự ép mình phải “hết lòng” nữa. Mẹ chồng ốm, tôi sắc thuốc đúng phần, đủ việc. Không thiếu, cũng không dư. Chồng tôi nhận ra, hỏi:
“Em giận à?”
Tôi lắc đầu:
“Em mệt.”
Ba năm sau, mẹ chồng đổ bệnh nặng. Tai biến. Nhập viện cấp cứu lúc nửa đêm. Anh cả ở xa, con út đi công tác, chồng tôi hoảng loạn gọi cho tôi không được. Cả nhà thay nhau gọi. Một cuộc. Mười cuộc. Rồi hơn tám mươi cuộc gọi nhỡ hiện kín màn hình.
Tôi nhìn điện thoại rất lâu.
Cuối cùng, tôi nhắn một tin duy nhất vào nhóm gia đình:
“Con dâu là người ngoài. Chuyện nhà, nhờ người trong lo giúp.”
Rồi tôi tắt máy.
Sáng hôm sau, tôi vẫn đến viện. Không phải vì sợ mang tiếng, mà vì tôi không muốn mình trở thành người tàn nhẫn như họ từng đối xử với tôi. Nhưng lần này, tôi đến với tư cách một người giúp, không phải một người mang ơn.
Mẹ chồng nhìn thấy tôi thì khóc. Bà nắm tay tôi, yếu ớt nói:
“Mẹ sai rồi…”
Tôi rút tay về, nhẹ nhàng:
“Không đâu mẹ. Mỗi người chỉ đang sống đúng vị trí của mình thôi.”
Cả phòng bệnh im phăng phắc.
Lần đầu tiên sau mười năm, tôi thấy mình không còn thấp hơn ai trong căn nhà đó nữa.